0978 038 722

Phân biệt hợp đồng thành lập công ty và hợp đồng BCC

Phân biệt hợp đồng thành lập công ty và hợp đồng BCC (hợp đồng hợp tác kinh doanh) có ý nghĩa đối với việc xác định loại hợp đồng ký kết cũng như ý nghĩa đối với các chủ thể ký kết.

Thứ nhất, về khái niệm

Pháp luật hiện hành chưa có một khái niệm cụ thể về hợp đồng thành lập công ty. Tuy nhiên, trên cơ sở lý luận, có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng thành lập công ty như sau: Hợp đồng thành lập công ty là sự thỏa thuận của các thành viên sáng lập về việc góp vốn để thành lập một tổ chức kinh tế nhằm thực hiện hoạt động kinh doanh.

Luật Đầu tư 2014 có đưa ra khái niệm về hợp đồng hợp tác kinh doanh như sau: hợp đồng hợp tác kinh doanh là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế. Mặc dù khắc phục được nhược điểm của Luật Đầu tư 2005 khi quy định về khái niệm hợp đồng hợp tác kinh doanh, tuy nhiên có thể thấy rằng, khái niệm mà Luật Đầu tư 2014 đưa ra cũng chưa thể hiện đầy đủ bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận khi mà Luật Đầu tư 2014 đưa ra khái niệm: “hợp đồng hợp tác kinh doanh là hợp đồng…”.

Luật Đầu tư 2005 quy định về khái niệm hợp đồng hợp tác kinh doanh như sau:

Hợp đồng hợp tác kinh doanh (gọi tắt là hợp đồng BCC) là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.

Khái niệm mà Điều luật đưa ra cũng chưa hoàn toàn phản ánh đúng bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận, việc quy định hợp đồng BCC là “một hình thức đầu tư” là không đúng.

=> Như vậy, cả hai khái niệm trên mà Luật Đầu tư 2005 và Luật Đầu tư 2014 đưa ra đều chưa thể hiện hết bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận hay đưa ra khái niệm chưa thực sự phù hợp “hợp đồng” là “hợp đồng”… Như vậy, người viết xin đưa ra khái niệm về hợp đồng hợp tác kinh doanh như sau:

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là thỏa thuận giữa các nhà đầu tư về việc góp vốn nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế.

Thứ hai, về mục đích của hợp đồng.

Mục đích của hợp đồng thành lập công ty là nhằm thành lập ra một tổ chức kinh tế để thực hiện hoạt động kinh doanh; còn đối với hợp đồng hợp tác kinh doanh thì mục đích là việc góp vốn để thực hiện hoạt động kinh doanh mà không nhằm thành lập ra một tổ chức kinh tế.

Thứ ba, về thời điểm giao kết hợp đồng.

Thời điểm giao kết hợp đồng thành lập công ty là thời điểm công ty chưa được thành lập còn thời điểm giao kết hợp đồng hợp tác kinh doanh có thể trước hoặc sau khi công ty được thành lập. 

Trên đây là một số những điểm khác biệt giữa hợp đồng thành lập công ty và hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC).

 Để được tư vấn cụ thể về từng loại hợp đồng trên, xin  vui lòng liên hệ với VTV Law Chúng tôi sẽ cung cấp thông tin, tư vấn và có những dịch vụ trợ giúp pháp lý tốt nhất để bạn lựa chọn.

Hãy để chúng tôi đem  thành công đến gần bạn hơn !

VTV Law có thể  hỗ trợ giúp khách hàng sau thành lập một số vấn đề như:

  • Tư vấn giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại.
  • Tư vấn hoạt động đăng ký website điện tử;
  • Tư vấn đăng kí bản quyền, thương hiệu, nhãn hiệu.

Đường dây nóng tư vấn :0943 523 788  ( Ms. Hảo)

Bình luận

Ý kiến bạn đọc

About the Author: VTV LAW FIRM