Quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp

Gọi 0943523788 để được tư vấn miễn phí

Quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp là một trong số những quyền cơ bản của các chủ thể trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên không phải bất kỳ ai cũng có thể thành lập và quản lý doanh nghiệp mà phải đảm bảo được các điều kiện của pháp luật quy định.

Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam trừ các trường hợp sau:

  • Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan đơn vị mình;
  • Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ công chức;
  • Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam hoặc Công an nhân dân Việt Nam.
  • Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước;
  • Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

Ngoài ra, pháp luật cũng hạn chế một số trường hợp cụ thể trong thành lập doanh nghiệp. Cụ thể như :

cá nhân chỉ được thành lập một doanh nghiệp tư nhân, là thành viên hợp danh của một công ty hợp danh, nếu không có sự đồng ý của các thành viên hợp danh khác. Tuy nhiên, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền thành lập, tham gia thành lập công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần.

Có thể thấy rằng, pháp luật quy định như vậy là xuất phát từ chế độ chịu trách nhiệm của chủ doanh nghiệp tư nhân cũng như thành viên hợp danh của công ty hợp danh, đó là chế độ chịu trách nhiệm vô hạn, khi có rủi ro xảy ra, hay khi doanh nghiệp tư nhân bị phá sản, nếu chủ doanh nghiệp tư nhân được quyền thành lập hai doanh nghiệp tư nhân thì tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân đều nằm trong diện tài sản phá sản, khi đó, tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân không đủ đảm bảo cho các nghĩa vụ của doanh nghiệp bị phá sản.

Tuy nhiên, chủ doanh nghiệp tư nhân hay thành viên hợp danh lại được thành lập công ty TNHH một thành viên hay công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty Cổ phần, xuất phát từ chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn của thành viên công ty TNHH, cổ đông công ty cổ phần, tức là chỉ phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ, các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn góp vào công ty. Điều này vẫn đảm bảo chủ doanh nghiệp tư nhân hay thành viên hợp danh thực hiện các khoản nợ hay các nghĩa vụ tài sản khác khi doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh lâm vào tình trạng phá sản.

Như vậy, đối tượng có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp là rất rộng, có thể thấy rằng, pháp luật hiện hành đã tạo điều kiện thuận lợi để các thủ thể thực hiện việc thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam. Để được tư vấn về các trường hợp được quyền đăng ký quản lý doanh nghiệp hãy liên hệ với VTV Law để được tư vấn rõ hơn.

Hãy để chúng tôi đem thành công đến gần bạn hơn !

Đường dây nóng tư vấn : 0943 523 788  (Ms. Hảo) 

Các lĩnh vực tư vấn khác của VTV Law:

Tư vấn soạn thảo hồ sơ theo yêu cầu;

Tư vấn chuyển đổi loại hình doanh nghiệp;

Tư vấn thành lập, giải thể doanh nghiệp;….

Bình luận

Ý kiến bạn đọc

About the Author: VTV LAW FIRM